HUMULIN 30/70 KWIKPEN

Thứ tư - 21/08/2019 09:45
humulin-30-70-kwikpen
humulin-30-70-kwikpen
Thuốc điều trị đái tháo đường
THÀNH PHẦN: 
Mỗi ml: Insulin người 100 IU (được sản xuất trên E.coli K12 bằng phương pháp tái tổ hợp DNA).
Một bút tiêm: đóng sẵn chứa 3ml tương đương 300IU biphasic insulin isophan - 30% Insulin hòa tan/ 70% insulin isophan
Tá dược: Metacresol chưng cất, glycerol, phenol, protamin sulfat, dinatri phosphat (heptahydrat), oxid kẽm, nước pha tiêm.
DẠNG BÀO CHẾ: Hỗn dịch thuốc tiêm đựng trong bút tiêm đóng sẵn.
QUY CÁCH ĐÓNG GÓI: Hộp 5 bút tiêm đóng sẵn x 3ml.
DƯỢC LÝ:
Nhóm dược lý - điều trị: A10A D01, là dạng insulin tác dụng trung gian.
Hoạt tính đầu tiên của insulin là điều hòa chuyển hóa glucose.
Ngoài ra, insulin còn có nhiều tác dụng đồng hóa và chống dị hóa ở các mô khác nhau. Trong mô cơ, điều này bao gồm tăng tổng hợp glycogen, acid béo, glycerol và protein và hấp thu acid amin, nhưng lại làm giảm ly giải glycogen, tân tạo glucose, tạo ceton, tiêu lipid, dị hóa protein và sản xuất acid amin.
DƯỢC ĐỘNG HỌC:
Dược động học của insulin không phản ánh tác dụng chuyển hóa của hormon này. Vì vậy, khi cân nhắc hoạt tính của insulin nên quan sát các biểu đồ biểu diễn sự sử dụng glucose.
CHỈ ĐỊNH:
Để điều trị bệnh nhân đái tháo đường đòi hỏi insulin để duy trì ổn định nội môi glucose.
LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG:
Liệu pháp insulin được thực hiện tại bệnh viện giai đoạn đầu.
Liều dùng:
Liều lượng được bác sĩ xác định tùy theo nhu cầu của từng bệnh nhân và phải được điều chỉnh theo kết quả giám sát đều đặn nồng độ glucose máu.
Liều khởi đầu thông thường ở người lớn vào khoảng 20-40 IU/ngày, tăng dần khoảng 2 IU/ngày, cho đến khi đạt được nồng độ glucose máu mong muốn, khuyến cáo nồng độ glucose trong máu tĩnh mạch toàn phần lúc đói phải giữ trong khoảng 3,3 đến 5,6mmol/lít (60-100 mg/dl) và không được thấp dưới 3mmol/lít (55mg/dl). Tổng liều mỗi ngày vượt quá 80IU là bất thường và có thể nghĩ đến kháng insulin.
Cách dùng:
Tiêm dưới da vào phía trên cánh tay, bắp đùi, mông hoặc bụng. Cần thay đổi luân lưu vị trí tiêm, sao cho một nơi tiêm chỉ được nhắc lại sau hơn một tháng.
Cũng có thể tiêm bắp, tuy không được khuyến cáo, chế phẩm này không được tiêm đường tĩnh mạch.
Cần thận trọng khi tiêm bất kỳ chế phẩm insulin Humulin nào để đảm bảo không chọc vào mạch máu. Sau khi tiêm, không được xoa bóp nơi tiêm. Phải huấn luyện các bệnh nhân sử dụng thành thạo các kỹ thuật tiêm.
Công thức của hỗn hợp Humulin là hỗn hợp làm sẵn của Insulin hòa tan và insulin isophan được tạo ra để tránh cho bệnh nhân phải trộn lẫn các chế phẩm insulin. Chế độ điều trị cho bệnh nhân cần dựa vào nhu cầu chuyển hóa của từng người.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH:
* Hạ đường huyết.
* Quá mẫn cảm với hoạt chất và mọi thành phần của chế phẩm, trừ khi dùng trong chương trình giải mẫn cảm.
* Không được tiêm tĩnh mạch bất kỳ chế phẩm Humulin nào ngoại trừ Humulin R (hòa tan).
CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG:
Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ.
Chuyển bệnh nhân sang loại hoặc sản phẩm khác chứa insulin phải dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ. Thay đổi về nồng độ, loại hàng (nhà sản xuất), loại (hòa tan, isophan, hỗn hợp), loài (động vật, người, chất tương tự insulin người) và/hoặc về phương pháp sản xuất (DNA tái tổ hợp so với insulin nguồn gốc động vật)có thể dẫn đến việc cần phải thay đổi về liều lượng.
Một số bệnh nhân đang dùng insulin người có thể đòi hỏi phải thay đổi về liều lượng từ liều dùng với các insulin nguồn gốc động vật. Khi phải điều chỉnh liều, có thể xảy ra với liều đầu tiên hoặc trong vài tuần đầu hoặc vài tháng đầu.
Một số ít bệnh nhân có gặp các phản ứng hạ glucose-máu sau khi chuyển sang dùng insulin người đã cho thấy sớm có những triệu chứng cảnh báo ít rõ rệt hoặc ít khác biệt với những triệu chứng mà họ đã dùng insulin nguồn gốc từ động vật trước đó. Những bệnh nhân mà có glucose-máu được cải thiện mạnh, ví dụ khi điều trị insulin tăng cường, có thể bị mất một số hoặc tất cả các triệu chứng cảnh báo về hạ glucose-máu và do đó cần được căn dặn kỹ càng. Những điều kiện khác khiến cho những triệu chứng cảnh báo sớm về hạ glucose-máu khác biệt hoặc ít rõ rệt bao gồm bệnh đái tháo đường kéo dài quá lâu, bệnh thần kinh của đái tháo đường hoặc dùng cùng các thuốc như thuốc chẹn beta. Các phản ứng hạ glucose-máu và tăng glucose-máu không được điều chỉnh có thể gây bất tỉnh, hôn mê hoặc tử vong.
Sử dụng không đủ liều hoặc ngừng điều trị, đặc biệt ở người đái tháo đường phụ thuộc insulin có thể dẫn tới tăng glucose-máu và nhiễm toan ceton do đái tháo đường, là những trạng thái có tiềm năng gây đe dọa tính mạng.
Điều trị với insulin người có thể tạo kháng thể, nhưng chuẩn độ kháng thể sẽ thấp hơn là kháng thể từ insulin nguồn gốc từ động vật tinh chế.
Nhu cầu insulin có thể thay đổi rõ rệt trong các bệnh về tuyến thượng thận, tuyến yên hoặc giáp trạng và khi có suy gan hoặc suy thận.
Nhu cầu insulin cũng có thể tăng lên khi ốm đau hoặc có rối loạn về cảm xúc.
Điều chỉnh liều lượng insulin cũng có thể cần thiết khi bệnh nhân thay đổi mức hoạt động thể lực hoặc thay đổi chế độ dinh dưỡng thường dùng.

Ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc
Khả năng của bệnh nhân tập trung và phản ứng có thể bị suy yếu do hậu quả của hạ glucose-máu. Có thể đó là nguy cơ trong những tình huống mà khả năng trên đặc biệt quan trọng (ví dụ khi lái xe hoặc vận hành máy móc).
Bệnh nhân cần được căn dặn phải thận trọng tránh hạ glucose-máu trong khi lái xe, điều này đặc biệt quan trọng với người có giảm hoặc mất nhận thức về các dấu hiệu hạ glucose-máu. Trong những tình huống đó, nên cân nhắc tính thích hợp của lái xe.
THỜI KỲ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ:
Cần thiết phải giữ vững sự kiểm tra chặt ở bệnh nhân dùng insulin trong thai kỳ (đái tháo đường phụ thuộc insulin hoặc đái tháo đường khi mang thai). Nhu cầu insulin thường giảm trong quý đầu của thai kỳ và tăng lên trong các quý 2 và 3. Bệnh nhân đái tháo đường cần được căn dặn thông báo cho bác sĩ biết mình đang mang thai hoặc muốn có thai.
Theo dõi cẩn thận về glucose-máu cũng như về sức khỏe chung là điều thiết yếu đối với người mang thai mà bị bệnh đái tháo đường.
Bệnh nhân đái tháo đường trong thời kỳ cho con bú có thể cần điều chỉnh liều insulin và/hoặc chế độ dinh dưỡng.
TƯƠNG TÁC:
Một số chế phẩm thuốc được biết có tương tác với chuyển hóa glucose. Bác sĩ cần tính đến khả năng tương tác và hỏi kỹ xem bệnh nhân đã và đang dùng thuốc gì trong khi dùng insulin người.
Nhu cầu insulin có thể tăng lên khi dùng các chất có hoạt tính làm tăng glucose-máu, như glucocorticoid, hormon giáp trạng, hormon tăng trưởng, danazol, thuốc giống giao cảm β2 (như ritodrine, salbutamol, terbutaline) và thiazid.
Nhu cầu insulin cũng có thể giảm khi có mặt những thuốc có tác dụng làm hạ glucose-máu, như thuốc uống hạ glucose huyết (OHA), các salicylate (như acid acetylsalicylic), một số thuốc chống trầm cảm (thuốc ức chế monoamino-oxydase), một số thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin (ACE) (captopril, enalapril), các chất ức chế thụ thể angiotensin II, thuốc chẹn beta không chọn lọc và rượu.
Các chất tương tự như somatostatin (như octreotide, lanreotide) có thể làm tăng hoặc giảm nhu cầu insulin.
TƯƠNG KỴ:
Không nên trộn Humulin với các insulin người được sản xuất bởi các nhà máy khác hoặc với các chế phẩm insulin nguồn gốc từ động vật.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN:
Hạ glucose-máu là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất khi dùng insulin mà bệnh nhân đái tháo đường phải chịu đựng. Hạ glucose-máu nghiêm trọng có thể dẫn tới mất ý thức và trong trường hợp tồi tệ nhất, có thể tử vong.
Không có số liệu về tần suất xuất hiện cụ thể của giảm đường huyết vì giảm đường huyết là kết quả của cả liều dùng insulin và các yếu tố khác như chế độ ăn kiêng của bệnh nhân và chế độ luyện tập.
Dị ứng tại chỗ ở bệnh nhân phổ biến (từ 1/100 đến < 1/10): Đỏ da, sưng và ngứa có thể xảy ra ở vị trí tiêm insulin. Tình trạng này thường xuyên giảm trong vài ngày tới vài tuần. Trong một số trường hợp, có thể có liên quan tới những yếu tố khác khác với insulin, như thuốc làm sạch da nhưng gây kích ứng hoặc kỹ thuật tiêm còn sai sót.
Dị ứng toàn thân, rất hiếm gặp (< 1/10.000) nhưng có tiềm năng nghiêm trọng hơn, là dị ứng lan tỏa với insulin. Có thể gây phát ban toàn thân, thở ngắn, thở khò khè, hạ huyết áp, mạch nhanh hoặc đổ mồ hôi. Những trường hợp nghiêm trọng của dị ứng lan tỏa có thể đe dọa tính mạng. Trong hiện tượng hiếm mà có dị ứng nghiêm trọng với Humulin, cần phải điều trị ngay lập tức. Có thể đòi hỏi thay insulin hoặc giải mẫn cảm.
Có thể xảy ra loạn dưỡng mỡ tại nơi tiêm (từ 1/1.000 đến < 1/100).

Thông báo cho bác sĩ những tác dụng phụ khi dùng thuốc.
Giá: 137.890 đồng/bút.
Dowloads tại đây.
DSĐH: Trần Thị Thanh Thủy

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Hình ảnh hoạt động
hinhanh hoatdong
Video nổi bật
Thăm dò ý kiến

Vì sao bạn biết đến Bệnh viện Phục hồi chức năng Hải Dương

Đăng nhập
Co gai
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây